CÔNG TY TNHH NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VÀ QUẢN LÝ
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRÍ TUỆ VIỆT NAM

CÔNG TY TNHH NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG VÀ QUẢN LÝ
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRÍ TUỆ VIỆT NAM

 Chào mừng bạn đến với website Công ty TNHH Nghiên cứu, Ứng dụng và Quản lý Khoa học Công nghệ Trí tuệ Việt Nam
 Chào mừng bạn đến với website Công ty TNHH Nghiên cứu, Ứng dụng và Quản lý Khoa học Công nghệ Trí tuệ Việt Nam
 Chào mừng bạn đến với website Công ty TNHH Nghiên cứu, Ứng dụng và Quản lý Khoa học Công nghệ Trí tuệ Việt Nam
 Chào mừng bạn đến với website Công ty TNHH Nghiên cứu, Ứng dụng và Quản lý Khoa học Công nghệ Trí tuệ Việt Nam
Lĩnh vực kinh doanh
Máy và thiết bị công nghiệp
Dây cáp điện
Liên kết website
Đối tác
Một số định hướng điều hành kinh tế vĩ mô năm 2013 và giai đoạn 2013-2015

 

TS. Phạm Viết Muôn - Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ

 

(Tài chính) Việc kiên định chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý của Việt Nam đã đạt được một số thành quả đáng ghi nhận trong năm 2012. Lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế cũng dần ổn định và cân bằng hơn, dù nền kinh tế phải đối mặt với không ít khó khăn. Bước vào năm 2013, kinh tế vĩ mô được dự báo sẽ tiếp tục ổn định, tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế sẽ cao hơn. Đây cũng là năm kỳ vọng vào những chuyển động mạnh mẽ hơn của công cuộc tái cơ cấu nền kinh tế.

 

Một số định hướng điều hành kinh tế vĩ mô năm 2013 và giai đoạn 2013-2015

Ảnh minh họa. Nguồn:Internet

Việt Nam trước bối cảnh thế giới đang thay đổi rất nhanh, phức tạp và khó lường

 

Các tổ chức tài chính quốc tế và các nước đều có chung nhận định, tình hình kinh tế thế giới năm 2013 và giai đoạn 2013 - 2015 còn rất nhiều khó khăn. Dự báo của các tổ chức quốc tế cũng như trong nước cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và khu vực trong thời gian tới đều chậm lại và sẽ thấp hơn tốc độ tăng trưởng trước khủng hoảng. Những rủi ro đối với tiến trình phục hồi kinh tế thế giới còn tiểm ẩn khá lớn. Năm 2013, tăng trưởng kinh tế thế giới có thể khá hơn năm 2012, nhưng cũng không nhiều.

 

Trong tình hình chung đó, khu vực các nước đang phát triển và mới nổi có mức tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng của các nước đang phát triển và mức tăng trưởng chung của thế giới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động và đang hình thành nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng hơn.

 

Thương mại thế giới dự báo sẽ phục hồi chậm. Bảo hộ thương mại và các tranh chấp thương mại có xu hướng ngày càng gia tăng. Hoạt động thương mại thế giới sẽ đổi chiều về nhóm các nền kinh tế mới nổi với mức tăng trưởng thương mại lớn nhất.

 

Nguồn cung ODA trên thế giới có dấu hiệu giảm sút do kinh tế một số nước cung ODA chủ lực hiện nay đang gặp khó khăn do tình trạng nợ công cao trong khi nhu cầu vốn ODA để hỗ trợ các quốc gia đang phát triển, đặc biệt những nước kém phát triển và những nước có tình hình chính trị bất ổn trong thời gian gần đây ngày càng gia tăng. Ngoài ra, theo xu hướng, các nhà tài trợ dành ưu tiên nhiều hơn cho các nước kém phát triển, nên nguồn vốn ODA cung cấp cho các nước có thu nhập trung bình sẽ tiếp tục giảm trong thời gian tới.

 

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đang có xu hướng chuyển dịch theo chiều hướng có lợi cho khu vực Đông Á, trong đó có Việt Nam, nếu kịp thời nắm bắt và có các cơ chế phù hợp. Một số nhà đầu tư đã bắt đầu định hướng chuyển dịch từ Trung Quốc sang các nước khác trong khu vực để giảm thiểu rủi ro và một phần do chi phí lương của Trung Quốc tăng. Việc ASEAN và Trung Quốc trở thành thị trường tự do cũng góp phần củng cố thêm cho chủ trương chuyển một phần cơ sở sản xuất của các doanh nghiệp (DN) FDI từ Trung Quốc sang các nước ASEAN. Việt Nam với lợi thế địa kinh tế, nằm ngay giữa thị trường khoảng 1,2 tỷ người (600 triệu người vùng Nam Trung Quốc và 600 triệu người trong khu vực ASEAN), kết nối thuận lợi với các nước ASEAN và các tỉnh Nam Trung Quốc cả bằng đường hàng không, đường biển và đường bộ. Nếu cơ sở hạ tầng phát triển tốt hơn sẽ có cơ hội trở thành một trung tâm trung chuyển cung cấp hàng hóa cho cả khu vực của các tập đoàn xuyên quốc gia, DN đầu tư trực tiếp nước ngoài.

 

 

Thành tựu to lớn của đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế là cơ sở quan trọng nhất để Việt Nam bước vào giai đoạn 2013 -2015

 

Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế giai đoạn vừa qua không ngừng được nâng lên, tạo những tiền đề quan trọng đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và cải thiện cuộc sống của người dân. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, diễn biến xấu của kinh tế thế giới do khủng hoảng nợ công và lạm phát cao trong thời gian gần đây và những yếu kém nội tại của nền kinh tế đã tích tụ trong nhiều năm cũng tác động không nhỏ đến sự phát triển của đất nước.

Những yếu tố cơ bản, gây mất ổn định kinh tế vĩ mô vẫn chưa được giải quyết. Cơ cấu kinh tế bất hợp lý; chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu kém... Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bị chậm lại. Năm 2010, tốc độ tăng GDP đạt 6,78%, năm 2011 đạt 5,89%, năm 2012 giảm xuống còn 5,03%. Thể chế kinh tế thị trường, chất lượng nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng vẫn là những điểm nghẽn của sự phát triển.

 

Có thể khẳng định riêng năm 2013, giai đoạn 2013 - 2015, nền kinh tế Việt Nam có nhiều thuận lợi và cơ hội phát triển, nhưng vẫn tiếp tục đối mặt với những khó khăn, thách thức. Tuy nhiên, kinh nghiệm của đổi mới kinh tế và hội nhập quốc tế sẽ là tiền đề quan trọng để chúng ta hướng tới thành công.

 

Ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển bền vững là mục tiêu hàng đầu

 

Quan điểm phát triển, tư tưởng chỉ đạo chung trong năm 2013 cũng như giai đoạn 2013 - 2015 là phải nắm vững và giải quyết tốt mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển; giữa tăng trưởng cao và ổn định kinh tế vĩ mô; giữa kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế... Trong giai đoạn 2013 - 2015, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam vẫn là kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng truởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tạo tiền đề vững chắc cho tăng trưởng cao hơn ở những năm cuối của kế hoạch 5 năm 2011 - 2015.

 

Trước yêu cầu đó, cần phát huy tốt hơn nữa vai trò của Nhà nước trong kiến tạo, điều tiết sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trên cơ sở tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường, xem nhu cầu thị trường, cơ chế thị trường và hiệu quả, lợi ích là căn cứ chính để quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển; đồng thời có biện pháp tích cực ngăn ngừa và khắc phục những hạn chế, mặt trái của cơ chế thị trường.

 

Phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại

 

Mục tiêu của Việt Nam đã được xác định đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong năm 2013, các chỉ tiêu chủ yếu của Việt Nam gồm: GDP tăng khoảng 5,5%, CPI khoảng 8%, bội chi ngân sách nhà nước không quá 4,8% GDP, tỷ lệ nhập siêu khoảng 8%, kim ngạch xuất khẩu tăng 10%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%, tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động…

 

Trong năm 2013, các chỉ tiêu chủ yếu gồm: GDP tăng khoảng 5,5%, CPI khoảng 8%, bội chi ngân sách nhà nước không quá 4,8% GDP, tỷ lệ nhập siêu khoảng 8%, kim ngạch xuất khẩu tăng 10%, tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị dưới 4%, tạo việc làm cho khoảng 1,6 triệu lao động… Bên cạnh đó, mục tiêu lớn hàng đầu là đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Đây là những nhiệm vụ không dễ dàng trong điều kiện nền kinh tế phải giải quyết những tồn tại cũ như nợ xấu khu vực ngân hàng, tồn kho và co hẹp sản xuất của các DN. Những với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, kỳ vọng chúng ta sẽ đạt được mục tiêu đề ra nói trên…

 

 

Nhất quán điều hành chính sách tiền tệ, tài khóa đồng bộ, chặt chẽ

 

Trước hết, trong năm 2013, Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ, tài khóa đồng bộ, chặt chẽ; thực hiện nghiêm việc cắt giảm và quản lý tốt đầu tư công; tạo thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ có chọn lọc cho những ngành, lĩnh vực quan trọng và các DN hoạt động có hiệu quả, có lợi thế canh tranh. Trong các năm tới, cần tập trung chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện tốt các định hướng, giải pháp nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

 

Thúc đẩy tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả

 

Cơ cấu lại nền kinh tế phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phải thực hiện đồng bộ trong tất cả các ngành, lĩnh vực trên phạm vi cả nước và từng địa phương, đơn vị cơ sở trong nhiều năm. Ưu tiên việc tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng là: Tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) và các tổ chức tài chính; tái cơ cấu DN nhà nước (DNNN) mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước.

Mục tiêu tổng quát hàng đầu của nền kinh tế Việt Nam năm 2013 là tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tỷ lệ lạm phát thấp, tăng trưởng cao hơn năm 2012, đẩy mạnh thực hiện 3 đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đảm bảo an sinh xã hội và phúc lợi xã hội...

 

- Về tái cơ cấu đầu tư với trọng tâm là đầu tư công, cần tiếp tục đổi mới tư duy và phương pháp xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nhất theo thứ tự ưu tiên hợp lý nhất các nguồn lực của Nhà nước và xã hội, nội lực và ngoại lực cho đầu tư phát triển theo quy hoạch. Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách đầu tư phải có tầm nhìn xa, không bị “tư duy nhiệm kỳ”, tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí hay “lợi ích nhóm” chi phối. Quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hằng năm và 5 năm phải cụ thể hóa được những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ do Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đề ra và gắn kết chặt chẽ với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ phù hợp với tình hình đất nước và thế giới trong từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, cần khẩn trương soát xét, điều chỉnh luật pháp, chính sách và cơ chế quản lý đầu tư nói chung và đầu tư công nói riêng; đặc biệt là vấn đề phân cấp quản lý nhà nước về thu chi ngân sách và đầu tư. Khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để phê duyệt hay từ chối hoặc cắt giảm các dự án đầu tư, nhất là dự án đầu tư công. Khắc phục tình trạng phát triển quá nhiều các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khai thác quá mức tài nguyên, khoáng sản; tình trạng phê duyệt quá nhiều dư án vượt khả năng nguồn lực hiện có, kế hoạch đầu tư bị cắt khúc ra nhiều năm, dẫn đến đầu tư dàn trải, kéo dài thời gian thi công, nợ xây dựng cơ bản gây lãng phí, thất thoát, hiệu quả thấp.

 

Nội dung của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội phải tính toán đầy đủ đến kế hoạch huy động vốn, phát triển nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ; đồng thời phải bao gồm đồng bộ các chính sách, biện pháp cụ thể, có tính khả thi, bảo đảm thực hiện thành công các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra.

 

- Để cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cơ cấu hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính, phải đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường vàng và ngoại tệ, khắc phục tình trạng đô la hóa; kiểm sát chặt chẽ nợ công, nợ xấu của DNNN, nợ vay nước ngoài, các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán và các nguồn vốn nóng khác. Từng bước giảm tỷ lệ cung cấp vốn cho đầu tư phát triển từ hệ thống NHTM; nâng cao chất lượng các hoạt động dịch vụ ngân hàng, cấu trúc lại hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính theo hướng giảm nhanh số lượng NHTM và tổ chức tài chính yếu kém; sáp nhập, hợp nhất các NHTM, các tổ chức tài chính nhỏ để có số lượng phù hợp các NHTM và tổ chức tài chính có quy mô và uy tín, hoạt động lành mạnh, bảo đảm tính thanh khoản và an toàn hệ thống.

- Tái cấu trúc DNNN, trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, phải quán triệt thực hiện nghiêm túc các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả DNNN đã được xác định. Kiên quyết chấm dứt tình trạng các tập đoàn kinh tể, tổng công ty nhà nước đầu tư dàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015. Tập trung phát triển DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô. Hoàn thiện thể chế quản lý DNNN, thực hiện quyền và trách nhiệm của chủ sở hữu nhà nước đối với vốn và tài sản nhà nước tại các DN, bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính. Đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động của DNNN theo hướng chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với quy định của Luật DN, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường; Đối với mỗi tập đoàn, tổng công ty nhà nước cần xây dựng đề án tái cấu trúc và phương án nhân sự lãnh đạo chủ chốt phù hợp, có tính đến việc thuê tổng giám đốc là người nước ngoài trong trường hợp thực sự cần thiết và có hiệu quả.

                                                                                             Bài đăng trên Tạp chí Tài chính số 2 - 2013

 

Ý kiến của bạn


Họ tên Email  Tiêu đề Nội dung